Đầu tư nước ngoài theo hình thức mua cổ phần, phần vốn góp, Luật đã rõ sao còn bị bẻ cong?

Đầu tư nước ngoài theo hình thức mua cổ phần, phần vốn góp, Luật đã rõ sao còn bị bẻ cong?

 

Đầu tư nước ngoài vào Việt nam theo hình thức mua cổ phần, phần vốn góp là một trong những hình thức được pháp luật Việt nam cho phép và quy định cụ thể tại Luật Đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo Điều 26 Luật Đầu tư, về thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp, thìNhà đầu tư thực hiện thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế trong các trường hợp sau đây: (a) Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế hoạt động trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện áp dụng đối với nhà đầu tư nước ngoài; (b) Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế quy định tại khoản 1 Điều 23 của Luật này nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế.

 

Điều 46 Nghị định 118/2015/NĐ-CP Hướng dẫn thi hành Luật đầu tư cũng quy định, “Tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi thành viên, cổ đông tại Cơ quan đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật khác tương ứng với từng loại hình tổ chức kinh tế, trừ các trường hợp sau: a) Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế kinh doanh ngành, nghề đầu tư có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài; b) Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế (gồm: (b1) Tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với tổ chức kinh tế là công ty hợp danh; (b2) Tổ chức kinh tế có tổ chức kinh tế quy định tại điểm (b1) khoản này nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên, và (3) Tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế quy định tại điểm (b1) khoản này nắm giữ từ 51 % vốn điều lệ trở lên) nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của tổ chức kinh tế trong các trường hợp: Tăng tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài từ dưới 51% lên 51% trở lên và tăng tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài khi nhà đầu tư nước ngoài đã sở hữu từ 51% vốn điều lệ trở lên trong tổ chức kinh tế. Nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư mua cổ phần, phần vốn góp quy định tại các mục (b1) và (b2) trên đây phải thực hiện thủ tục đăng ký mua cổ phần, vốn góp theo quy định.

 

Xem thêm:

Thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Dịch vụ tư vấn đầu tư

Thủ tục điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư

Các hình thức đầu tư áp dụng cho nhà đầu tư nước ngoài tại Việt nam

 

Với các quy định trên đây, tưởng rằng, bất kỳ ai cũng có thể hiểu một cách rõ rằng rằng, đối với doanh nghiệp đã có 100% vốn đầu tư nước ngoài, thì nếu có bất kỳ nhà đầu tư nước ngoài nào vào mua lại một phần cổ phần, phần góp vốn thì chỉ cần thực hiện thủ tục thay đổi đăng ký kinh doanh thông thường, vì việc đầu tư đó không làm thay đổi nội dung của dự án đầu tư. Tuy nhiên, trên thực tế, tồn tại một cách hiểu khác, đó là do nhà đầu tư mới mua cổ phần, phần góp vốn vẫn làm cho Công ty đạt hơn 51% phần vốn là từ nhà đầu tư nước ngoài nên nhà đầu tư mới đó vẫn phải thực hiện thủ tục đăng ký mua cổ phần, phần góp vốn. Đây là một cách hiểu rất không rõ ràng và tạo thêm thủ tục nhiêu khê cho nhà đầu tư nước ngoài.