Nguyên tắc áp dụng luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài

Nguyên tắc áp dụng luật trong lĩnh vực đầu tư nước ngoài

 

Theo quy định tại Biểu cam kết dịch vụ gia nhập WTO, Chính phủ Việt nam cho phép nhà đầu tư nước ngoài được hiện diện thương mại tại Việt nam dưới các hình thức gồm: thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, thành lập doanh nghiệp liên doanh với nhà đầu tư trong nước, thành lập chi nhánh trực thuộc, hoặc tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh với đối tác Việt Nam (BCC).

 

Cụ thể hoá các quy định trong văn kiện có tính quốc tế nêu trên, Luật Đầu tư 2014 quy định nhà đầu tư nước ngoài được quyền lựa chọn một trong số các hình thức đầu tư gồm: Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế;Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế; Đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP; Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC.

 

Cụ thể, đối với hình thức đầu tư thành lập tổ chức kinh tế (Điều 22), nhà đầu tư được thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật. Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định.

 

Đối với đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế (Điều 24), Nhà đầu tư có quyền góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế. Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế thực hiện theo quy định tại Điều 25 và Điều 26 của Luật Đầu tư.

 

Đối với đầu tư theo hình thức hợp đồng PPP (Điều 27), nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án ký kết hợp đồng PPP với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công.

 

Cuối cùng, đối với đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC (Điều 28), hợp đồng BCC được ký kết giữa các nhà đầu tư trong nước thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự. Hợp đồng BCC được ký kết giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 37 của Luật Đầu tư 2014.

 

Nhìn vào các nội dung trên đây, chúng ta dễ nhận thấy rằng, có độ vênh giữa quy định tại biểu cam kết dịch vụ gia nhập WTO và quy định của Luật Đầu tư về hình thức đầu tư.

 

Vấn đề đặt ra ở đây là nhà đầu tư nước ngoài (thành viên WTO) sẽ phải áp dụng văn bản nào nếu nhà đầu tư muốn lựa chọn một hình thức đầu tư không có đồng thời trong cả hai văn bản?.

 

Về mặt nguyên tắc, biểu cam kết dịch vụ gia nhập WTO được xây dựng trên nguyên tắc “chọn cho”. Nghĩa là Chính Phủ Việt nam chỉ có nghĩa vụ phải đồng ý mở cửa thị trường cho các dịch vụ và các hình thức hiện diện thương mại có quy định tại biểu cam kết. Đối với bất kỳ dịch vụ/ hình thức hiện diện thương mại nào không có quy định thì Chính Phủ Việt Nam có quyền từ chối cấp phép đầu tư cho nhà đầu tư nước ngoài.

 

Theo quy định tại Điều 4 Luật Đầu tư 2014, thì trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng theo quy định của điều ước quốc tế đó. Như vậy, về mặt nguyên tắc thì nhà đầu tư phải áp dụng các quy định tại biểu cam kết dịch vụ gia nhập WTO.

 

Trên thực tế, trong quá trình thực hiện thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt nam hoặc điều chỉnh giấy chứng nhận đầu tư của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp cần xem xét kỹ văn bản chuyên ngành để biết chính sách của Chính Phủ Việt nam. Về mặt nguyên tắc, nếu biểu cam kết dịch vụ gia nhập WTO không cho thì Chính phủ Việt nam có quyền từ chối, nhưng thực tế, nếu Chính Phủ Việt nam đã quy định trong văn bản chuyên ngành, thì dù hình thức hiện diện thương mại không có trong biểu cam kết dịch vụ thì vẫn có khả năng được cấp phép.

 

Công ty Luật TNHH Inteco nhận giải đáp và tư vấn các quy định pháp luật liên quan đến đầu tư  nước ngoài tại Việt nam. Số điện thoại tư vấn trực tuyến: 0934536339