Quy định pháp luật về bảo vệ thông tin cá nhân trên mạng Internet

Hỏi: Thưa luật sư, việc mua bán trái phép thông tin cá nhân sẽ bị xử lý như thế nào? theo Luật an  toàn thông tin mạng, kinh doanh trái phép thông tin cá nhân, gây thiệt hại có thể xử lý hình sự không thưa ông?

 

Trả lời: Cám ơn bạn đã quan tâm tới dịch vụ tư vấn pháp luật của chúng tôi. Về vấn đề này, chúng tôi xin trả lời như sau:

 

Theo khoản 15 Điều 3 Luật An toàn thông tin mạng, “thông tin cá nhân là thông tin gắn với việc xác định danh tính của một người cụ thể”.

 

Thông tin cá nhân là đối tượng được pháp luật bảo vệ. Theo Điều 17 Luật An toàn thông tin mạng, tổ chức, cá nhân xử lý thông tin cá nhân chỉ được phép tiến hành thu thập, sử dụng, cung cấp, chia sẻ, phát tán thông tin cá nhân cho bên thứ ba nếu được chủ thể thông tin cá nhân đồng ý và theo mục đích, phạm vi được chủ thể thông tin cá nhân cho phép, trừ trường hợp thực hiện theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo quy định tại khoản 5 Điều 7 Luật An toàn thông tin mạng, hành vi “thu thập, sử dụng, phát tán, kinh doanh trái pháp luật thông tin cá nhân của người khác, lợi dụng sơ hở, điểm yếu của hệ thống thông tin để thu thập, khai thác thông tin cá nhân” là một trong các hành vi bị nghiêm cấm.

 

Theo Điều 8 Luật An toàn thông tin mạng, người nào có hành vi vi phạm nêu trên sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

 

Việc xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi xâm phạm thông tin cá nhân được thực hiện theo Nghị định số 174/2013/NĐ-CP. Cụ thể:

 

Điểm e khoản 3 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP quy định:  “3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: … e) Thu thập, xử lý và sử dụng thông tin của tổ chức, cá nhân khác mà không được sự đồng ý hoặc sai mục đích theo quy định của pháp luật;…”.

 

Điểm a khoản 4 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP quy định: “4. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Tiết lộ trên môi trường mạng thông tin thuộc bí mật kinh doanh hoặc tiết lộ trái phép nội dung thông tin riêng của người sử dụng dịch vụ viễn thông;…”.

 

Điểm a khoản 5 Điều 66 Nghị định 174/2013/NĐ-CP quy định: “5. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Mua bán hoặc trao đổi trái phép thông tin riêng của người sử dụng dịch vụ viễn thông;…”.

 

Lưu ý rằng mức phạt tiền nêu trên là áp dụng đối với tổ chức, cá hân thực hiện cùng hành vi vi phạm thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.

 

Nếu hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng và có đủ cấu thành tội phạm thì người thực hiện hành vi mua bán những thông tin riêng hợp pháp của cá nhân khác trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet mà không được phép của chủ sở hữu thông tin đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 226 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet.

 

Người phạm tội này có thể bị phạt tiền từ 10 - 100 triệu đồng; cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm. Người phạm tội có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau: (i) có tổ chức; (ii) lợi dụng quyền quản trị mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng internet; (iii) thu lợi bất chính từ một trăm triệu đồng trở lên; (iv) gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Trên đây là một số nội dung trả lời câu hỏi của bạn. Nếu bạn cần thêm các ý kiến trả lời tư vấn pháp luật của chúng tôi, vui lòng liên hệ trực tiếp.

 

Trân trọng,