Thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối, nhà đầu tư cần lưu ý gì về phạm vi hoạt động?

Theo quy định tại Điều 22 Luật Đầu tư 2014, nhà đầu tư được thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật. Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định và phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

 Số vốn để thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cần

Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ theo quy định như sau

Hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, đối tác Việt Nam tham gia thực hiện hoạt động đầu tư và điều kiện khác theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

 

Trong quá trình cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư và thực hiện các thủ tục đầu tư, chúng tôi nhận được khá nhiều băn khoăn về phạm vi hoạt động mà nhà đầu tư nước ngoài được phép thực hiện. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, một số nhà đầu tư Nhật Bản có văn bản hỏi chúng tôi về phạm vi hoạt động trong lĩnh vực phân phối mà nhà đầu tư nước ngoài có thể thành lập doanh nghiệp, cũng như là thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như thế nào. Về vấn đề này, chúng tôi xin được đề cập tới hai khía cạnh là điều kiện theo quy định tại các văn kiện quốc tế mà Việt nam là thành viên và  khía cạnh khác là các quy định của pháp luật Việt nam.

 

Ở khía cạnh các điều ước quốc tế, trong quá trình cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư, và thực hiện các thủ tục thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chúng tôi đặc biệt chú trọng các văn kiện như WTO, AFAS, FTAs, VKFTA. Theo nội dung các văn kiện này, phạm vi hoạt động của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài gồm:

- Đại lý hoa hồng (CPC 621, 61111, 6113, 6121);  

- Bán buôn (CPC 622, 61111, 6113, 6121);  

- Bán lẻ (CPC 631 + 632, 61112, 6113, 6121) (bao gồm cả hoạt động bán hàng đa cấp); 

- Nhượng quyền thương mại (CPC 8929). 

 

Không được thực hiện quyền phân phối đối với: thuốc lá và xì gà, sách, báo và tạp chí, vật phẩm đã được ghi hình, kim loại quý và đá quý, dược phẩm, thuốc nổ, dầu thô và dầu đã qua chế biến, gạo, đường mía và đường củ cải. 

Điều kiện lập cơ sở bán lẻ: việc thành lập các cơ sở bán lẻ (ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất) của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài sẽ được xem xét trên cơ sở kiểm tra nhu cầu kinh tế (ENT). 

 

Bên cạnh các quy định về phạm vi hoạt động mà các điều ước quốc tế quy định nêu trên, nhà đầu tư cần lưu ý một số quy định của pháp luật Việt Nam như sau:

 

Đối với việc thành lập cơ sở bán lẻ, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được lập cơ sở bán lẻ thứ nhất khi đã được cấp phép quyền phân phối. Việc thành lập cơ sở bán lẻ thứ nhất không phải làm thủ tục cấp Giấy phép lập cơ sở bán lẻ.

 

Việc lập cơ sở bán lẻ, bao gồm cả cơ sở bán lẻ thứ nhất, phải tuân thủ quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với hoạt động bán lẻ và phù hợp với quy hoạch có liên quan của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi dự kiến lập cơ sở bán lẻ. 

 

Việc lập cơ sở bán lẻ ngoài cơ sở bán lẻ thứ nhất được xem xét từng trường hợp cụ thể căn cứ vào việc kiểm tra nhu cầu kinh tế của địa bàn nơi đặt cơ sở bán lẻ theo các tiêu chí: số lượng cơ sở bán lẻ, sự ổn định của thị trường, mật độ dân cư và quy mô của địa bàn cấp quận, huyện nơi dự kiến đặt cơ sở bán lẻ. Quy định này không áp dụng trong trường hợp lập cơ sở bán lẻ có diện tích dưới 500 m2 tại khu vực đã được tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy hoạch cho hoạt động mua bán hàng hoá và đã hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng trừ trường hợp có thay đổi quy hoạch và điều kiện này không còn tồn tại. 

 

Đối với hoạt động nhượng quyền thương mại, Hệ thống kinh doanh dự định dùng để nhượng quyền đã hoạt động ít nhất 01 (một) năm. Trường hợp thương nhân Việt Nam là Bên nhận quyền sơ cấp từ Bên nhượng quyền nước ngoài, thương nhân Việt Nam đó phải kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại ít nhất 01 (một) năm ở Việt Nam trước khi tiến hành cấp lại quyền thương mại.

 

Banner