Trợ cấp cho thời gian không được đóng bảo hiểm thất nghiệp

Trợ cấp cho thời gian không được đóng bảo hiểm thất nghiệp

 

Chào Luật sư,

 

Vì một số lý do, tôi đã xin nghỉ việc ở công ty tôi đang làm và được công ty đồng ý. Tôi có một số thắc mắc về trợ cấp thất nghiệp nhờ luật sư giải đáp giúp. Tính đến khi nghỉ việc, tôi làm cho công ty tôi được hơn 6 năm (02/2010- hết tháng 7/2016). Công ty tôi chỉ mới đóng bảo hiểm thất nghiệp cho tôi từ tháng 9/2013 đến nay. Vậy 3 năm trước không đóng bảo hiểm thất nghiệp thì công ty có phải chi trả trợ cấp thất nghiệp cho tôi không, mức trợ cấp được tính như thế nào?

 

Xin cảm ơn.

 

 

 

Trả lời:

 

Qua thông tin bạn cung cấp, chúng tôi hiểu rằng bạn chuẩn bị nghỉ việc và bạn không rõ công ty bạn có phải chi trả trợ cấp thất nghiệp cho khoảng thời gian 03 năm bạn không được tham gia bảo hiểm thất nghiệp hay không và mức trợ cấp được tính như thế nào. Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

 

Căn cứ các quy định của Luật Việc làm năm 2013, “trợ cấp thất nghiệp” là một chế độ của bảo hiểm thất nghiệp, do tổ chức bảo hiểm xã hội thực hiện việc chi trả và được lấy từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Vì vậy, người sử dụng lao động không có trách nhiệm, nghĩa vụ chi trả trợ cấp thất nghiệp cho người lao động. Trợ cấp thất nghiệp của bạn sẽ do tổ chức bảo hiểm xã hội chi trả tương ứng với khoảng thời gian bạn tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật.

 

Tuy bạn không được công ty trả trợ cấp thất nghiệp nhưng thời gian bạn không đóng bảo hiểm thất nghiệp sẽ được tính vào thời gian mà Công ty có trách nhiệm chi trả khoản trợ cấp thôi việc.

 

Khoản 3 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định một trong những trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động là: “3. Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động”.

 

Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định:

 

“1. Khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.

Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.

Tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc”.

 

Điểm b, điểm c khoản 3 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định chi tiết cách tính thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc như sau:

 

                       

Dịch vụ thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Điều chỉnh vốn đầu tư doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Thủ tục thành lập văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt nam

Thủ tục xin cấp phép thành lập chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam

Đăng ký thay đổi địa chỉ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Thủ tục điều chỉnh vốn điều lệ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Thủ tục mua vốn góp, cổ phần trong doanh nghiệp Việt Nam

Dịch vụ điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư

“…b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc…”.

 

Bạn viết đơn xin nghỉ việc và được công ty đồng ý nên hợp đồng lao động của bạn đã chấm dứt theo trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 36 nêu trên. Bạn đã làm việc cho công ty nhiều hơn 12 tháng, vì vậy, bạn thuộc trường hợp được hưởng trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 Bộ luật Lao động năm 2012, Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP.

 

Theo thông tin bạn cung cấp, tính đến khi nghỉ việc bạn đã làm việc cho công ty được 06 năm 06 tháng, thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp của bạn là 02 năm 11 tháng. Chúng tôi hiểu rằng công ty bạn chưa từng chi trả trợ cấp thôi việc cho bạn và trong thời gian không đóng bảo hiểm thất nghiệp cho bạn, công ty bạn cũng đã không chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của bạn một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật.

 

Do đó, thời gian để tính trợ cấp thôi việc của bạn (cũng chính là thời gian bạn làm việc cho công ty nhưng không được tham gia bảo hiểm thất nghiệp) là 03 năm 07 tháng và được tính tròn là 04 năm theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP. Mỗi năm làm việc bạn được trợ cấp một nửa tháng tiền lương, nghĩa là bạn sẽ được trợ cấp 02 tháng tiền lương, trong đó, tiền lương để tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi bạn thôi việc (Từ tháng 02/2016 đến tháng 7/2016).

 

Tóm lại, theo thông tin bạn cung cấp, công ty bạn sẽ không chi trả trợ cấp thất nghiệp mà sẽ chi trả trợ cấp thôi việc cho bạn. Mức trợ cấp thôi việc bạn được nhận là 02 tháng tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của bạn từ tháng 02/2016 đến tháng 7/2016.

 

 

CV tư vấn luật Vũ Thị Hạnh – Công ty Luật TNHH Inteco