Tư vấn về chốt sổ bảo hiểm xã hội

                

Kính gửi Quý Công ty!

 

Tôi đi làm ở công ty cũ được 4 năm (11/2012-2/2016). Trong quá trình làm việc, tôi được công ty cũ đóng bảo hiểm bắt đầu từ tháng 9 năm 2013 (bắt đầu trừ tiền đóng bảo hiểm trong lương hàng tháng và nhận thẻ bảo hiểm y tế). Đến tháng 9 năm 2015, do các vấn đề trong công việc không được giải quyết thỏa đáng, tôi làm đơn xin nghỉ việc. Tuy nhiên, do chưa tìm được người thay thế công việc nên công ty đề nghị tôi làm thêm 1 tháng nữa và không ký đơn nghỉ việc cho tôi. Giám đốc công ty sau đó có nhắn tin cho tôi với nội dung quyết định cho nghỉ việc từ ngày 14/11/2015. Đến tháng 2/2016, do công ty không tuyển người để thay thế và sau nhiều lần yêu cầu nghỉ việc không được chấp thuận, tôi quyết định nghỉ việc mà không chờ đợi thêm nữa. Với lý do tôi bỏ việc không xin phép, giám đốc công ty cũ của tôi không trả lại sổ bảo hiểm cho tôi để đóng tiếp sang công ty mới.

 

Vì vậy, tôi rất mong quý công ty tư vấn cho tôi một số nội dung như sau:

 

Trong sự việc trên, tôi hành động như vậy là đúng luật hay sai luật.

 Tin nhắn quyết định cho thôi việc của giám đốc có được coi là quyết định cho nghỉ việc chính thức hay không?

 Về mặt pháp lý, tôi cần hành động như thế nào để yêu cầu công ty cũ của tôi trả lại sổ bảo hiểm?

 Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong nhận được sự tư vấn của Quý công ty!

 

 

Trả lời:

 

Như thông tin bạn cung cấp, bạn đã làm việc cho công ty bạn liên tục hơn 03 năm từ tháng 11/2012 đến tháng 02/2016 vì vậy chúng tôi hiểu rằng hợp đồng lao động của bạn là hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Tháng 09/2015, bạn nộp đơn xin nghỉ việc nhưng công ty đề nghị bạn làm thêm 01 tháng nữa. Giám đốc công ty không ban hành Quyết định cho bạn nghỉ việc mà chỉ nhắn tin cho bạn với nội dung cho nghỉ việc từ ngày 14/11/2015. Tháng 02/2016, bạn nghỉ việc dù công ty không chấp thuận. Giám đốc công ty khong trả sổ BHXH cho bạn vì lý do bạn bỏ việc không xin phép.

 

Liên quan đến trường hợp của bạn, chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

 

Việc bạn nghỉ việc vào tháng 02/2016 dù công ty không chấp thuận là đúng hay sai?

 

Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động. Trong đó, trường hợp nghỉ việc của bạn có thể thuộc trường hợp: “3. Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động” quy định tại khoản 3 hoặc “người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động…” được quy định tại khoản 9. Bạn đã nộp đơn xin nghỉ việc vào tháng 09/2015, việc này có thể được coi là đề nghị thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

 

Nếu việc bạn nghỉ việc được thực hiện đúng quy định pháp luật về một trong hai trường hợp trên thì việc bạn nghỉ việc vào tháng 02/2016 là đúng pháp luật. Ngược lại, việc bạn nghỉ việc không phù hợp với cả hai trường hợp thì bạn đã nghỉ việc trái pháp luật.

 

Thứ nhất, xét khả năng chấm dứt hợp đồng lao động theo thỏa thuận.

 

Nếu coi việc nộp đơn xin nghỉ việc của bạn là đề nghị thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động thì bạn chỉ được nghỉ việc nếu công ty đồng ý thỏa thuận với bạn và hai bên thống nhất về việc cho bạn nghỉ việc, thời điểm cho bạn nghỉ việc và các vấn đề khác liên quan. Việc công ty “đề nghị bạn làm thêm 01 tháng nữa do chưa tìm được người mới” có thể coi là đã đồng ý thỏa thuận với bạn và hai bên đã thống nhất được với nhau.

 

Do đó, về lý thuyết, sau khi kết thúc 01 tháng làm thêm kể từ ngày công ty đề nghị bạn làm thêm 01 tháng, bạn có quyền nghỉ việc theo trường hợp thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động và bạn không vi phạm pháp luật.

 

Tuy nhiên, dù pháp luật không có quy định về hình thức thỏa thuận phải bằng văn bản hay lời nói nhưng theo kinh nghiệm của chúng tôi, khi có tranh chấp xảy ra, mọi thỏa thuận không được thực hiện bằng văn bản có chữ ký và dấu của các bên liên quan đều khó có thể được thừa nhận. Công ty đã không ký vào đơn xin nghỉ việc của bạn và chúng tôi hiểu rằng công ty và bạn cũng đã không ký bất kỳ văn bản nào về việc công ty “đề nghị bạn làm thêm 01 tháng nữa do chưa tìm được người mới”.

 

Do đó, về thực tế giải quyết tranh chấp, trường hợp nghỉ việc của bạn khó có khả năng được công nhận là đúng pháp luật do chấm dứt hợp đồng lao động theo thỏa thuận.

 

Thứ hai, xét khả năng bạn đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

 

Nếu coi việc nộp đơn xin nghỉ việc của bạn là thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động thì bạn không cần phải được công ty đồng ý, bạn chỉ cần đảm bảo thực hiện đúng quy định pháp luật.

 

Khoản 3 Điều 37 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: “3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này”. Như vậy, đối với trường hợp làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn như trường hợp của bạn, bạn không cần được công ty bạn đồng ý cho bạn nghỉ việc, bạn không phải đưa ra lý do chấm dứt hợp đồng lao động mà chỉ cần thông báo cho công ty bạn biết trước khi bạn nghỉ việc ít nhất 45 ngày (trừ trường hợp lao động lao động nữ mang theo có thể chấm dứt sớm hơn theo quy định tại Điều 156).

 

Do đó, về lý thuyết, sau thời hạn 45 ngày kể từ ngày nộp đơn xin nghỉ việc, bạn có quyền nghỉ việc theo trường hợp người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và bạn không vi phạm pháp luật.

 

Tuy nhiên, mặc dù pháp luật không quy định về hình thức thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng theo kinh nghiệm của chúng tôi, trong thực tế, việc gửi thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động phải được ghi rõ nội dung đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, thời điểm bạn sẽ chính thức nghỉ việc và và quan trọng nhất là phải có xác nhận việc nhận thông báo của người/ phòng, ban có thẩm quyền.

 

Chúng tôi hiểu rằng công ty đã không cung cấp cho bạn bất kỳ văn bản xác nhận nào về việc nhận đơn xin nghỉ việc của bạn và đơn xin nghỉ việc của bạn cũng không đảm bảo đủ các nội dung cơ bản của một thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như đã nêu trên. Do đó, về thực tế giải quyết tranh chấp, trường hợp nghỉ việc của bạn khó có khả năng được công nhận là đúng pháp luật do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.

 

Như vậy, thực tế, việc bạn nghỉ việc vào tháng 02/2016 dù công ty không chấp thuận là có thể bị coi là trái pháp luật.

 

Tin nhắn quyết định cho thôi việc của giám đốc có được coi là quyết định cho nghỉ việc chính thức hay không?

 

Giám đốc công ty đã nhắn tin cho bạn với nội dung quyết định cho bạn nghỉ việc từ ngày 14/11/2015. Pháp luật không quy định cụ thể và rõ ràng rằng Quyết định thôi việc phải bằng văn bản. Tuy nhiên, từ những quy định khác có liên quan gián tiếp cho thấy quyết định thôi việc, thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động phải bằng văn bản (ví dụ: theo điểm b khoản 2 Nghị định 28/2015/NĐ-CP, trong trường hợp của bạn, khi làm hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, bạn phải nộp quyết định thôi việc hoặc thông báo hoặc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc).

 

Hơn nữa, theo các quy định hiện hành của pháp luật doanh nghiệp và pháp luật lao động, các văn bản do công ty ban hành nói chung và văn bản liên quan đến lao động nói riêng phải do người có thẩm quyền (thường là người đại diện theo pháp luật – trong trường hợp của bạn là giám đốc công ty) ký và có đóng dấu của công ty.

 

Vì vậy, tin nhắn của giám đốc công ty bạn khó có thể được coi là quyết định cho nghỉ việc chính thức do không đảm bảo hình thức cần thiết.

 

Thủ tục thay đổi địa chỉ trụ sở chính của Doanh nghiệp

Thủ tục chuyển đổi Doanh nghiệp tư nhân sang Công ty TNHH

Thủ tục chuyển đổi Công ty Cổ phần sang Công ty TNHH

Thủ tục chuyển đổi Công ty Cổ phần sang Công ty TNHH Một thành viên

Thủ tục chuyển đổi Công ty TNHH sang Công ty Cổ phần

Thủ tục chuyển đổi Công ty TNHH một thành viên sang Công ty Cổ phần

Thủ tục chuyển đổi Công ty TNHH Một thành viên sang Công ty TNHH hai thành viên trở lên

Đăng ký địa điểm kinh doanh

   

Dịch vụ thành lập doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Điều chỉnh vốn đầu tư doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Thủ tục thành lập văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt nam

Thủ tục xin cấp phép thành lập chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam

Đăng ký thay đổi địa chỉ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Thủ tục điều chỉnh vốn điều lệ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Thủ tục mua vốn góp, cổ phần trong doanh nghiệp Việt Nam

Dịch vụ điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư

 

 

Các biện pháp cần thiết để yêu cầu công ty cũ trả lại sổ bảo hiểm

 

Điều 47 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động. Khoản 3 điều này quy định như sau: “3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động”. Như vậy, khi chấm dứt hợp đồng lao động, bao gồm cả trường hợp bạn chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, người sử dụng lao động cũng phải hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội cho bạn. Công ty không được phép lấy lí do bạn bỏ việc không xin phép hay bất kì lí do gì để giữ sổ BHXH của bạn.

 

Nếu công ty bạn không trả sổ bảo hiểm xã hội cho bạn thì công ty bạn đã vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt hành chính vì hành vi này.

 

Để yêu cầu công ty cũ trả lại sổ BHXH, bạn có thể lựa chọn một trong tư biện pháp sau:

 

Biện pháp thứ nhất: Thương lượng với công ty về việc trả lại sổ BHXH cho bạn.

 

Trong quá trình thương lượng bạn có thể trình bày những hậu quả mà công ty có thể phải chịu nếu giữ sổ BHXH của bạn trái pháp luật. Cụ thể: công ty không hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại những giấy tờ khác đã giữ của một người lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động có thể bị phạt từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng (khoản 7 Điều 1 Nghị định 88/2015/NĐ-CP); công ty có thể bị bạn khiếu nại theo biện pháp thứ ba hoặc khởi kiện theo biện pháp thứ tư nêu dưới đây.

 

Biện pháp thứ hai: Gửi đơn yêu cầu hòa giải viên lao động cấp huyện (quận, huyện, thị xã) nơi công ty cũ đóng trụ sở thực hiện hòa giải tranh chấp. Lưu ý, bạn chỉ có thể yêu cầu hòa giải viên tiến hành hòa giải trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày bạn nghỉ việc (tháng 02/2016).

 

Biện pháp thứ ba: Khiếu nại, kiến nghị hành vi giữ sổ BHXH trái pháp luật tới chủ tịch UBND cấp xã (xã, phường, thị trấn) hoặc chủ tịch UBND cấp huyện hoặc chủ tịch UBND cấp tỉnh, chánh thanh tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội cấp tỉnh nơi công ty cũ đóng trụ sở. Theo quy định, khi nhận được thông tin về sai phạm của công ty, những người có thẩm quyền nêu trên sẽ giải quyết theo thủ tục xử phạt vi phạm hành chính. Nếu đủ cơ sở, công ty cũ của bạn sẽ bị phạt tiền và bị buộc hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ BHXH cho bạn.  

 

Biện pháp thứ tư: Nộp đơn khởi kiện tới tòa án nhân dân cấp huyện (quận, huyện, thị xã) nơi công ty cũ đóng trụ sở để yêu cầu tòa án giải quyết. Lưu ý, bạn chỉ có thể yêu cầu tòa giải quyết trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bạn nghỉ việc (tháng 02/2016).

 

Xem xét trường hợp cũng như nguyện vọng của bạn (bạn có khả năng bị xem là đã chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và bạn chỉ có nguyện vọng được lấy lại sổ BHXH) cũng  như để tiết kiệm thời gian và chi phí cho bạn, chúng tôi cho rằng bạn nên lựa chọn sử dụng biện pháp thứ nhất hoặc thứ hai.

 

Trên đây là một số thông tin để bạn tham khảo, nếu bạn cần thêm thông tin hoặc chưa hiểu rõ, xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi.

Trân trọng.

 TVV Vũ Thị Hạnh - Công ty Luật TNHH Inteco